Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

SERIES GIẤC NGỦ TRẺ SƠ SINH (TỪ 9- 12 THÁNG TUỔI)


Đây là giai đoạn đầy năm của trẻ. Khoảng 9-10 tháng tuổi, trẻ biết bò, 11-12 tháng, trẻ tập đi. Trẻ đã biết tập nóihiểu một số lời nói, có thể sử dụng ngón tay dễ dàng, cầm được vật tròn bằng ngón cái và ngón trỏ. Ở tuổi này, trẻ độc lập và “bướng bỉnh” hơn. Ta thường gọi hiện tượng này là trẻ ít hợp tác, nhưng các nhà tâm lý nhi khoa gọi là trẻ thiếu mềm mỏng. Thái độ bướng bỉnh, chống đối này thể hiện trong bữa ăn, khi mặc quần áo, biểu hiện tính độc lập, biết xấu hổ, sợ người lạ của cháu. Trẻ cũng có tâm trạng lo âu về những điều kỳ lạ sẽ xảy ra cho mình, lo phải xa mẹ, tách mẹ, sợ phải nằm riêng một mình và vì thế dễ sinh mất ngủ.
Ở độ tuổi này, trẻ thường thiếu ngủ, do giấc ngủ ngày không đủ, do ham chơi và có các rối loạn giấc ngủ khác (thức dậy nhiều lần trong đêm, khó ngủ trong đêm)… Vì vậy, cần phải giữ đúng lịch ngủ, kiên trì và khéo léo dỗ cháu ngủ khi cháu thức đêm.
 
Thiếu ngủ
Giấc ngủ của trẻ bị gián đoạn có thể do ốm đau, nghỉ cuối tuần, tiệc đêm, đi du lịch dài ngày. Tuy nhiên, đó chỉ là thiếu ngủ trong thời gian ngắn, chỉ cần ngủ thêm là sức khoẻ phục hồi. Nhưng nếu cha mẹ không biết sửa chữa những nhược điểm đó, sự thiếu ngủ sẽ chất chồng thành mạn tính, thì chỉ một thiếu hụt nhỏ cũng tạo nên bệnh lâu dài.
Thiếu ngủ là thủ phạm chính phá hoại kiểu ngủ ngon của cháu. Trong nhiều trường hợp, bố mẹ để cho cháu bỏ qua giấc ngủ trưa. Chẳng hạn như khi thời tiết quá đẹp, trời trong xanh, biển đầy sóng khiến cháu thấy thích thú và không đành lòng bắt cháu ở trong nhà.
Một khi đã trượt ra khỏi giấc ngủ trưa, trẻ rất mệt mỏi. Thoạt tiên là trẻ dễ cáu kỉnh, dễ bị kích thích, gắt gỏng (thường là lúc về chiều hoặc chập tối). Sau đó, trẻ có thể bị thức đêm vô cớ. Cuối cùng, nhân một dịp nào đó như đi thăm ông bà chẳng hạn, cháu chống lại việc ngủ đêm. Đó là do thiếu ngủ ngày.
Khi các giấc ngủ ngày đều đặn thì thời lượng ngủ đêm sẽ được cơ thể trẻ tự điều chỉnh, mặc dù cháu vẫn “thiếu mềm mỏng” vẫn “lo âu xa mẹ”. Nhưng khi ngủ ngày không đủ, tình trạng mệt mỏi sẽ tăng lên, cháu tỉnh táo và rất dễ thức giấc, do đó sẽ thiếu ngủ.
 
Giấc ngủ ngắn
Trong đa số trường hợp, tình trạng thiếu ngủ của trẻ ở lứa tuổi này là do ngủ ngắn không đủ. Có bà mẹ phàn nàn rằng vú nuôi có thể cho con ngủ trưa được 2 giấc, còn mẹ thì chỉ cho con ngủ trưa được 1 giấc, dỗ mấy cũng không được. Thực ra giấc ngủ trưa của cháu vẫn bình thường. Chỉ khác là vú nuôi phải thực hiện một cách có ý thức 2 giấc ngủ theo lịch mà mẹ cháu đã dặn; còn mẹ cháu thì linh động hơn vì cháu thích thức để chơi với mẹ, thậm chí khóc to lên sợ mẹ đi, hoặc khóc đòi mẹ đến. Vì vậy, các bà mẹ phải hết sức kiên quyết, làm đầy đủ các việc cần thiết để dỗ cho con ngủ (đu đưa, vỗ về, nựng nịu), kiên trì dỗ dành và đắp ấm, tắt đèn cho con ngủ.

SERIES GIẤC NGỦ TRẺ SƠ SINH: TỪ 3- 4 THÁNG TUỔI

     Hành vi cực kỳ “khổ tâm” của các cháu ở lứa 3-4 tháng tuổi là “đau bụng”. Các cháu này luôn ở tình trạng căng thẳng, khó quản lý, thức tỉnh và kêu khóc suốt ngày, nếu ngủ thì giờ ngủ thất thường và rất nhạy cảm với các kích thích.
Tình trạng này thường kéo dài từ 3 đến 5 tháng. Bố mẹ thường rất lúng túng, không hiểu trẻ quấy khóc do đói, mệt hay do cáu kỉnh mà dỗ cách nào cũng không nín. Hãy bình tĩnh, trẻ không sao cả, tốt nhất là bạn cứ chăm sóc cháu như thường lệ. Sau đây là một vài cách giải quyết:
- Gác việc nhà và việc giao tiếp với bạn bè lại.
- Tháo điện thoại ra.
- Chợp mắt ngay khi con ngủ.
- Thuê người giúp việc nội trợ gia đình khi trẻ quấy khóc nhiều.
- Thư giãn khi không vướng con bên cạnh (xem tivi, đi bơi, đi chợ).
- Làm cho cháu đỡ khóc bằng cách đu đưa hay cho bú vú giả.
- Nếu có thể thì đặt cháu trên chăn ấm, đặt chai nước ấm lên bụng, cất những đồ chơi cháu không thích, đặt đầu và cổ tay cháu qua một lần lót mềm.
- Nếu vặn đài, phải vặn rất nhỏ.

         Cứ làm như vậy cho đến khi cháu ngủ yên. Bạn có thể điều trị “hội chứng đau bụng” bằng cách mỉm cười với cháu. Thấy mẹ cười to, mắt mở rộng, nhìn âu yếm, nựng con, cháu sẽ bớt khóc.
Sự đau bụng của cháu, xin nhắc lại, không phải là đau bụng do đường ruột, do đói, hay đau thực sự, mà là do hệ thần kinh của cháu chưa phát triển đủ so với yêu cầu.
Trong thời gian này, trẻ bắt đầu có vài thay đổi như giữ đầu thẳng được, mỉm cười nhiều hơn, có thể cười to hoặc kêu the thé, thực sự là một đứa bé trong xã hội. Cháu thích chơi với bố mẹ nhiều hơn nằm một mình nên con có thể quên ngủ để chơi. Mặt khác, khi chơi với nhiều đồ chơi kích thích, cháu thấy như một thế giới mới đầy hấp dẫn và quên ngủ. Lúc này, trẻ thích nhìn trời, mây, cây cối, nghe tiếng chó sủa, hoặc lời hát ru nhịp nhàng.
Cháu cũng nhạy cảm với chất lượng giấc ngủ. Giấc ngủ ngày thường ngắn, gián đoạn. Việc bế đi chơi không dễ như trước. Nhịp sinh học bắt đầu xuất hiện khi ngủ ngày nên việc chăm sóc của cha mẹ phải đồng bộ với các nhu cầu sinh học của cháu. Khi cháu đòi ngủ, hãy đưa cháu vào chỗ mát yên tĩnh, khi ăn cũng vậy. 

        Cần phân biệt trẻ khóc là do đói, do cáu gắt hay do mệt mỏi. Tác giả đã từng khám cho một số em khóc rất dữ, cường độ và thời gian khóc dài đến nỗi mẹ cháu tưởng là cháu ốm đau. Trong khi khóc, trẻ đầy bụng và nuốt hơi, làm bố mẹ tưởng sữa bú không hợp hoặc pha sai công thức. Đây thực ra không phải bệnh mà chỉ do cháu quá mệt. Không những cháu chỉ khóc to và lâu khi thức mà còn khóc cả khi chuyển từ thức sang ngủ.

         Trẻ mệt phần lớn là do không được ngủ ngày tốt vì có quá nhiều kích thích bất thường ở bên ngoài mà cháu phải đối phó. Vì vậy, ở lứa tuổi này, muốn ngủ tốt, trẻ phải được đặt ở một nơi tĩnh lặng hoặc ở một nơi mà sau khi thức (khoảng 2 giờ), cháu có thể chợp mắt lại được ngay. Sau 2 giờ thức, cháu thấm mệt nên dễ rơi vào giấc ngủ. Nếu sau đó mà cháu vẫn không ngủ được thì sẽ bị kích thích nhiều, trở nên quá tỉnh táo và khó ngủ. Vì vậy, bạn hãy “cầm chịch” thời gian cho trẻ, cứ thức 2 giờ thì cho ngủ lại. Để cháu ngủ lại được, phải để nhiệt độ phòng vừa đủ, không quá nóng hoặc quá lạnh. Để biết giấc ngủ ngày của con khi nào là tốt nhất, hãy dựa trên:
- Hành vi của cháu.
- Thời gian ngủ trong ngày.
- Thời gian thức.

          Sau khi cháu ngủ được khoảng 5-10 phút, thậm chí 20 phút thì mẹ có thể rời con.
Tuy nhiên, không nên có quy định cứng nhắc mà nên tuỳ tình trạng của cháu mà quyết định, vì hệ thần kinh của cháu lúc này chưa hoàn thiện. Làm như vậy là tạo điều kiện để cháu phát triển khả năng tự ru ngủ của mình. Khi cháu buồn ngủ thì mẹ phải giúp cháu ngủ, không để cháu khóc vì tình trạng này dễ khiến mẹ phân vân là nên vào hay không nên vào với con.

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

PHÒNG BỆNH TIÊU TRẺ (TIẾP THEO)

3. Sử dụng nước an toàn
Có thể giảm nguy cơ tiêu chảy bằng sử dụng nước sạch. Gia đình cần:
- Chọn nguồn nước sạch nhất có thể
- Không được tắm, giặt và đại tiện gần nguồn nước. Xây hố xí cách nguồn nước ít nhất 10 mét ở phía đất thấp hơn
- Không cho động vật đến gần nguồn nước
- Chứa nước trong chum, vại được rửa sạch hằng ngày, có nắp đậy. Không để người và động vật uống nước trực tiếp ở chum vại. Dùng gáo cán dài để múc nước, không chạm tay vào nước.
- Nếu sẵn chất đốt thì sử dụng nước đã đun sôi cho trẻ uống và chế biến thức ăn. Nước chỉ cần đun sôi chứ không cần đun sôi kéo dài tốn chất đốt.
Khối lượng và chất lượng nước dự trữ trong gia đình có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy. Nếu có thể thì để một lựợng nước lớn sử dụng cho vệ sinh, còn nguồn nước sạch nhất thì chứa riêng dung để uống và chế biến thức ăn.
 

4. Rửa tay thường quy
Tất cả các nguyên nhân gây tiêu chảy được truyền bằng tay khi bị nhiễm bẩn phân. Nguy cơ của tiêu chảy đi khi thành viên gia đình thực hành rửa tay. Tất cả thành viên trong gia đình cần phải rửa tay của họ thật kỹ sau khi đi ngoài, sau khi vệ sinh cho trẻ đi ngoài, sau khi dọn phân cho trẻ, trước khi chuẩn bị thức ăn và trước khi ăn. Rửa tay sạch đòi hỏi phải sử dụng xà phòng hoặc chất thay thế sẵn có trong vùng như tro, có đủ nước để rửa tay thật kỹ.
 

5. Thực phẩm an toàn
Thực phẩm dễ nhiễm các tác nhân gây tiêu chảy trong tất cả các khaua từ sản xuất đến chế biến thức ăn bao gồm: nuôi trồng có sử dụng phân tươi, mua bán nơi công cộng ( chợ), chế biến thức ăn tại nhà hoặc quán ăn và bảo quản thức ăn sau chế biến
Thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm cá nhân cũng cần được nhấn mạnh, Khi tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cần tập trung vào thong điệp chính về chế biến và sử dụng thực phẩm
- Không ăn thực phẩm sống, trừ những rau quả đã bóc vỏ và phải ăn ngay
- Rửa tay kỹ với xà phòng sau khi đi ngoài và trước khi chế biến thức ăn hoặc ăn
- Nấu kỹ thức ăn
- Ăn thức ăn nóng hoặc hâm lại kỹ trước khi ăn
- Bảo quản thức ăn đã chế biến vào dụng cụ sạch riêng biệt để tránh nhiễm bẩn
- Sử dụng lồng bàn để tránh ruồi
 

6. Sử dụng hố xí và xử lý phân an toàn
Môi trường mất vệ sinh làm lan rộng các tác nhân gây tiêu chảy. Những tác nhân này được bài tiết từ phân làm lây nhiễm cho người và động vât, Xử lý phân đúng hạn chế lây nhiễm. Phân làm nhiễm bẩn nguồn nước nơi trẻ chơi, nơi bà mẹ giặt quần áo và lấy nước dung cho gia đình. Các gia đình cần quan tâm đến chất lượng và vệ sinh của hố xí. Nếu hố xí không đạt tiêu chuẩn thì phải đại tiện vào hố và chon phân ngay sau khi đại tiện. Phân của trẻ em thường chứa các tác nhân gây tiêu chảy, phải thu dọn, đổ vào hố xí hoặc chon ngay sau khi đi ra ngoài
 

7. Phòng bệnh bằng vaccine
- Phải tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine theo lịch tiêm chủng mở rộng.
- Tiêm phòng sởi có thể giảm tỷ lệ mắc và mức độ trầm trọng của tiêu chảy. Tất cả trẻ em cần tiêm phòng sởi ở độ tuổi khuyến nghị.
- Rotavirus: đã triển khai ở các nước phát triển cho thấy hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do rotavirus rất tốt. Hiện nay, có nhiều dạng chế phẩm vaccine phòng rotavirus, liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất và chương trình tiêm chủng quốc gia. Ở Việt Nam, WHO, UNICEF, GAVI PATH.v.v…đang nghiên cứu, giúp đỡ và có kế hoạch triển khai sử dụng vaccine này ở trẻ em bắt đầu từ cuối năm 2010
Vaccin tả uống cho những vùng có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của cơ quan y tế dự phòng
Vaccin thương hàn được chỉ định trong vùng có dịch. Các chỉ định cụ thể sẽ được chương trình tiêm chủng ở địa phương khuyến cáo.

Phòng bệnh tiêu chảy


Điều trị tiêu chảy đúng làm giảm nguy cơ tử vong nhưng không làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy. Cơ sở y tế là nơi tốt nhất để điều trị và hướng dẫn các thành viên của gia đình trẻ, giúp họ thực hiện các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy. Khi điều trị tiêu chảy, bà mẹ sẽ là người tiếp nhận những thong tin này. Để tránh đưa quá nhiều thong tin cho bà mẹ, chỉ nên nhấn mạnh 1 hoặc 2 điểm thích hợp nhất với thực tế của bà mẹ và đứa trẻ.

1. Nuôi con bằng sữa mẹ
Trong 6 tháng đầu đời, trẻ cần được bú mẹ hoàn toàn, có nghĩa là một đứa trẻ khoẻ mạnh cần được bú sữa mẹ và không phải ăn hợac uống thêm thứ gì khác ngoài như nước, các loại nước chè, nước hoa quả, nước cháo, sữa dodọng vật hoặc thức ăn nhân tạo….Trẻ được bú mẹ hoàn toàn sẽ ít mắc bệnh tiêu chảy và tỉ lệ tử vong thấp hơn so với trẻ không được bú mẹ hoặc không đuợc bú mẹ hoàn toàn. Bú mẹ cũng làm giảm nguy cơ dị ứng sớm, đồng thời cũng tăng sức đề kháng chống lại các bệnh nhiễm trùng, làm giảm các đợt nhiễm trùng khác ( ví dụ: viêm phổi). Nên cho trẻ bú mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi. Cho trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt ngay sau sinh mà không cho ăn bát cứ loại thức ăn nào khác.
Những lợi ích của bú mẹ.

+ Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất, cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng và nước cần thiết cho trẻ trong 6 tháng đầu đời và tiếp tục cung cấp tới một nửa các chất dinh dưỡng cho đến khi trẻ 2 tuổi.
+ Thành phần dinh dưỡng của sữa mẹ là lý tưởng nhất cho trẻ bú mẹ. Sữa công thức hay sữa động vật có thể bị pha loãng, làm giảm giá trị dinh dưỡng. hoặc pha quá đặc lại không cung cấp đủ nước. Do vậy, tỷ lệ các chất dinh dưỡng bị mất cân đối.
+ Sữa mẹ có chứa các chất miễn dịch, giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy . Các chất này không có trong sữa động vật hay thức ăn nhân tạo
+ Bú mẹ là sạch nhất, không phải sử dụng chai, núm vú nhân tạo, nước và các loại sữa khác. Những thứ này rất dễ bị nhiễm khuẩn, có thể gây tiêu chảy.
+ Bú mẹ ngay sau khi sinh giúp gắn kết tình cảm giữa mẹ và con, giúp cho đứa trẻ cảm thấy an toàn, ấm cúng hơn.
+ Hiện tượng không dung nạp sữa rất hiếm gặp ở trẻ bú mẹ.
+ Nuôi con bằng sữa mẹ giúp cho bà mẹ đẻ thưa hơn. Những bà mẹ cho con bú sẽ chậm thụ thai sau khi sinh hơn những bà mẹ không cho con bú. 


2. Cải thiện nuôi dưỡng bằng thức ăn bổ sung (ăn sam)
Thức ăn bổ sung nên cho ăn khi trẻ 6 tháng tuổi. Tuy nhiên, có thể cho trẻ ăn thức ăn bổ sung vào bất cứ thời gian nào sau 4 tháng tuổi nếu trẻ phát triển kém. Thực hành ăn sam tốt bao gồm lựa chọn thức ăn giàu dinh dưỡng và chế biến hợp vệ sinh. Lựa chọn thức ăn bổ sung dựa vào chế độ ăn và thực phẩm an toàn sẵn có tại địa phương. Cùng với sữa mẹ hoặc sữa khác, phải cho trẻ trẻ ăn thức ăn nghiền nhỏ bà bổ sung them trứng, thịt, cá và hoa quả. Những thức ăn khác p
hải nấu nhừ, có rau và cho them dầu ăn ( 5-10ml/ bữa)
Ngoài việc thuyết phục bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn và thực hành ăn sam, cán bộ y tế cần giới thiệu cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng để theo dõi cân nặng của trẻ. Phải cần và ghi vào biểu đồ tăng trưởng truớc khi cho trẻ rời cơ sở y tế.

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

ƯU ĐÃI VỚI THẺ VIETCOMBANK WCARD


Tai Biến Vì Mọc Răng

Ảnh : Minh họa

1. Tại chỗ răng mọc


- Triệu chứng: khi răng nhú lên, lợi có thể bị viêm tấy đỏ, có khi bị loét, có mủ. Nhiệt độ lên cao 38º5. Trẻ em quấy khóc, kém ăn, kém ngủ, dãi chảy nhiều.

- Điều trị. Vệ sinh mồm miệng, cho trẻ uống nước sau khi ăn, lau miệng, lợi

Nếu lợi đau nhiều, lấy ngón tay thấm dung dịch cocain 1% xoa nhẹ lên lợi.

Không cần rạch lợi vì dễ thành sẹo làm răng mọc khó khăn.

2. Ảnh hưởng đến toàn thân


- Quan niệm: Các nhà nhi khoa chưa nhất trí về sự liên quan giữa mọc răng và những triệu chứng toàn thân.

Nhiều tác giả công nhận rằng khi mọc răng, trẻ nhỏ có thể bị sốt, ỉa chảy nhẹ... Nhưng cũng không nên chẩn đoán nguyên nhân do mọc răng quá dễ dàng.

- Điều trị: Chủ yếu điều trị các triệu chứng nếu cần, vì các triệu chứng mất đi khi răng nhú khỏi lợi.

Theo: Chữa bệnh trẻ em- nhà xuất bản y học
Chủ biên: GS Chu Văn Tường- Nguyên giám đốc Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em.

ĐỂ CON CHÚNG TA MAU LỚN

   Bé mạnh khỏe, mau lớn và thông minh là ước mong của tất cả các bà mẹ. Có bà mẹ hỏi tôi “Em thấy bé không cao nên cho bé uống sữa hươu cao cổ, được không bác sĩ?”. Nghe thế tôi không khỏi mỉm cười trả lời với bà mẹ trẻ “Cũng được, nhưng quan trọng là chị phải cho bé ăn đầy đủ thì bé mới cao khỏe và thông minh được, sữa chỉ bổ sung thêm. Ngoài sữa, chị có thể cho bé ăn những thực phẩm giàu canxi khác như cua, tép, cá con, ăn cả vỏ và xương”. Trẻ con giống như một chồi non đang lớn, nếu một giai đoạn nào đó trẻ không nhận được đủ chất dinh dưỡng thì đứa trẻ - chồi non này sẽ phát triển èo uột hoặc thậm chí ngừng lớn. Việc nuôi dưỡng không đầy đủ lúc nhỏ sẽ để lại dấu tích lên cả cuộc đời bé sau này, bé trở thành một người lớn thấp bé, còi cọc, không đủ sức khỏe và trí tuệ để đảm đương với áp lực học tập và công việc ngày càng cao trong xã hội ngày nay. Một nhà thơ nổi tiếng người Chi Lê đã nói: “Có nhiều thứ chúng ta cần, ta có thể chờ đợi/ Nhưng trẻ thì không thể chờ/ Ngay bây giờ, ngay lúc này xương của bé đang hình thành, máu của bé đang tạo lập và trí tuệ của bé đang phát triển…” Do vậy, ngay từ lúc nhỏ các bà mẹ, ông bố phải dành thời gian để quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng bé đầy đủ, và còn phải chăm sóc sớm hơn nữa tức là lúc bé còn trong bụng mẹ. Như thế mà vẫn còn trễ vì tốt hơn nữa là cần phải đầu tư cho mẹ bé từ 20 năm về trước để khi trưởng thành mẹ bé là một thiếu nữ có đầy đủ sức khỏe để thực hiện thiên chức làm mẹ sau này.

   Trong suốt quá trình phát triển của trẻ có 3 giai đoạn cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khỏe và trí tuệ của trẻ sau này, các bà mẹ cần đặc biệt lưu tâm để chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ cho các cháu. Đó là:

   1. Giai đoạn phát triển trong bào thai: Từ một phôi sống bé xíu mà mắt thường không thể nhìn thấy bắt đầu hình thành các cơ quan bộ phận, tăng số lượng tế bào thần kinh, phát triển về cân nặng, chiều cao đến khi chào đời là một em bé mạnh khỏe có cân nặng 3-3,5 kí và chiều cao độ 50 cm. Muốn thế, mẹ cần đi khám thai định kỳ và chú trọng ăn uống lúc mang thai sao cho tăng độ 10-12 kí trong suốt thai kỳ. Nếu bé sinh ra nhẹ kí, cân nặng dưới 2,5 kí, tức là bé đã bị suy dinh dưỡng bào thai, bé dễ đau bệnh, dễ tử vong và cũng thường bị suy dinh dưỡng còi cọc hơn những trẻ bình thường khác.

   2. Giai đoạn từ lúc sinh ra đến 2 tuổi: Đây là giai đoạn phát triển nhanh nhất trong suốt quá trình phát triển của trẻ kể từ khi sinh ra. Chỉ trong vòng năm đầu tiên cân nặng và khối lượng não của bé đã tăng gấp 3 lần so với lúc mới sinh. Trẻ lúc 2 tuổi sẽ có chiều cao ước đoán bằng phân nửa chiều cao của người trưởng thành. Như vậy, nếu lúc 2 tuổi một bé trai chỉ có chiều cao 78cm thì chiều cao ước đoán lúc trưởng thành của bé sẽ là 78cm x  2 = 156cm. Bé trở thành một thanh niên thấp bé hơn nhiều so với các bạn cùng trang lứa được nuôi dưỡng tốt.

   3. Giai đoạn dậy thì: Sau giai đoạn phát triển nhanh ở 2 năm đầu đời, tốc độ phát triển của trẻ tăng chậm hơn. Đến giai đoạn dậy thì (10-18 tuổi), trẻ lại tiếp tục tăng tốc phát triển. Trong giai đoạn này, trẻ sẽ có một năm tăng trọng và chiều cao cực nhanh, có thể tăng đến 10 kí và cao từ 8 đến 10cm chỉ trong 1 năm. Mới ngày nào bé đang còn là một cô bé, cậu bé hồn nhiên rượt đuổi nhau chơi trốn tìm bỗng nhiên cao vọt lên trở thành một chàng trai, thiếu nữ. Các bé gái thường dậy thì sớm hơn các bé trai từ 2 đến 3 năm. Các bà mẹ cần phải biết rằng đây là giai đoạn phát triển cuối cùng quyết định tầm vóc của bé lúc trưởng thành sau này, do vậy cần phải lưu ý chế độ ăn và nhắc nhở các cháu ăn uống đầy đủ để trẻ phát triển hết tiềm năng của mình.

0-6 tháng
- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn. Cho bé bú sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh
- Cho bú bất cứ khi nào bé muốn cả ngày và đêm, ít nhất 8 lần một ngày
- Không cho trẻ ăn hoặc uống thêm bất cứ thứ gì khác ngoài sữa mẹ

6-12 tháng
- Cho trẻ ăn dặm. Ban đầu tập cho trẻ ăn từng ít một, từ ít đến nhiều, từ lỏng đến đặc, từ 1 loại thực phẩm đến đa dạng. Sau đó tăng dần đến 2-3 chén bột hoặc cháo đặc đủ chất mỗi ngày gồm 4 nhóm thực phẩm (bột + đạm + dầu + rau)
- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ sau ăn bất cứ khi nào trẻ muốn cả ngày lẫn đêm, hoặc 500 ml sữa bò mỗi ngày trong trường hợp bé không bú mẹ.
- Cho trẻ ăn thêm trái cây tươi như chuối, cam, xoài, đu đủ…

         
1-2 tuổi
- Cho bé ăn 4-5 chén bột/ cháo đặc hoặc cơm tán đủ chất một ngày, mỗi chén cách nhau mỗi 3 giờ
- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ sau ăn bất cứ khi nào trẻ muốn cả ngày lẫn đêm, hoặc 300-500 ml sữa bò mỗi ngày.
- Cho trẻ ăn thêm trái cây tươi

 
2-5 tuổi
- Cho trẻ ăn 3 bữa chính cùng với gia đình, mỗi bữa độ 1 chén cơm với đủ 4 nhóm thực phẩm
- Cho trẻ ăn thêm 2-3 bữa phụ giữa các bữa ăn chính như sữa, yaourt, bánh, chè… Tiếp tục cho trẻ uống khoảng 300 ml sữa mỗi ngày.
- Cho trẻ ăn thêm trái cây tươi


  
  
5-10 tuổi
- Cho trẻ ăn 3 bữa chính, mỗi bữa từ 1 chén rưỡi đến 2 chén cơm, chú trọng bữa ăn sáng
- Cho trẻ ăn thêm 2-3 bữa phụ.  Cho trẻ uống ít nhất 300 ml sữa mỗi ngày.
- Cho trẻ ăn thêm trái cây tươi

   Chú trọng bữa ăn sáng, các bữa ăn phụ. Nên cho trẻ uống1-2 ly sữa mỗi ngày

10-18 tuổi
- Cho trẻ ăn 3 bữa chính, mỗi bữa 2-3 chén cơm, chú trọng bữa ăn sáng
- Cho trẻ ăn thêm 2-3 bữa phụ.  Cho trẻ uống ít nhất 300 ml sữa mỗi ngày.
- Cho trẻ ăn thêm trái cây tươi
Chú trọng bữa ăn sáng, các bữa ăn phụ. Nên cho trẻ uống 1-2 ly sữa mỗi ngày

 
   Hy vọng rằng với những bước hướng dẫn dinh dưỡng cụ thể trên đây, các bà mẹ có thể dễ dàng áp dụng để nuôi dưỡng các cháu mau lớn, mạnh khỏe và thông minh như mong đợi của các chị. Dẫu biết rằng các bà mẹ thật khó nhọc để nuôi dưỡng các con khôn lớn từ tấm bé đến trưởng thành nhưng tôi tin rằng với tấm lòng của người mẹ, các chị sẽ vượt qua được những vất vả của ngày hôm nay để nhìn thấy trái ngọt ngày mai.
Theo: BS. Nguyên Hoa
beyeu.com sưu tầm