Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

Những Điều Cần Biết Khi Tiêm Ngừa Bệnh Thủy Đậu


Mụn nước trong bệnh thủy đậu
   Trong những ngày vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng tràn ngập thông tin về bệnh thủy đậu – còn gọi là trái rạ hay phỏng rạ. Do bệnh thủy đậu đã vào giai đoạn cao điểm, số bệnh nhi mắc bệnh thủy đậu tăng cao, thêm vào đó là tác động tích cực của truyền thông giáo dục sức khỏe nên số phụ huynh đưa con trẻ đi tiêm ngừa bệnh thủy đậu đã tăng đột biến trong những ngày này. Theo ước tính, mỗi ngày phòng tiêm chủng Bệnh viện Nhi Đồng 1 tiếp nhận khoảng trên dưới 100 lượt trẻ đến tiêm ngừa, gần 50% trong số đó yêu cầu chủng ngừa bệnh thủy đậu, tăng gấp ba so với ngày thường. Điều này cho thấy nhu cầu tiêm ngừa của các bậc cha mẹ cho con em mình là rất cao, bài viết dưới đây sẽ cung cấp thêm một số thông tin để quý vị được rõ hơn.
   Tác hại của bệnh thủy đậu
   Hầu hết trẻ bệnh thủy đậu sẽ khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp trẻ có thể bị viêm da, viêm phổi hay viêm não và có thể tử vong. Trẻ sinh ra từ người mẹ bị mắc bệnh thủy đậu có thể bị dị tật, sẹo da và một số bất thường khác.
   Nếu đã từng bị mắc bệnh thủy đậu, trẻ sẽ có được miễn dịch và sau này không bị mắc bệnh một lần nữa. Tuy nhiên, trong vài trường hợp khi lớn lên bệnh có thể diễn tiến thành bệnh zona, đặc trưng bởi triệu chứng phát ban khu trú ở một số vị trí và đau dọc theo đường đi của dây thần kinh cảm giác.
   Một số thông tin về vắc xin ngừa bệnh thủy đậu
   Vắc xin ngừa bệnh thủy đậu được sản xuất từ vi rút sống được làm giảm độc lực, khi đưa vào cơ thể sẽ có tác dụng giúp cơ thể tạo ra kháng thể để chống lại bệnh. Vắc xin này được sử dụng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên. Tùy theo loại vắc xin mà trẻ chỉ cần tiêm một liều duy nhất hoặc nhắc lại liều thứ 2 đối với trẻ trên 12 tuổi. Khi tiêm đủ liều trẻ sẽ đạt được miễn dịch kéo dài đối với bệnh thủy đậu và cả bệnh zona sau này. Những trẻ đã từng mắc bệnh thủy đậu sẽ không cần tiêm ngừa vì bản thân đã có miễn dịch rồi.
   Những ai cần tiêm ngừa bệnh thủy đậu?
   -          Trẻ nhỏ từ 12 tháng tuổi trở lên chưa mắc bệnh thủy đậu
   -          Người lớn chưa từng mắc bệnh thủy đậu, đặc biệt là các đối tượng như cô giáo, người chăm sóc trẻ, nhân viên y tế
   -           Phụ nữ chưa có miễn dịch với bệnh cần được tiêm ngừa trước khi mang thai khoảng 2 tháng
   Những ai không được tiêm ngừa bệnh thủy đậu?
   -          Dị ứng với vắc xin hoặc bất cứ thành phần nào của vắc xin. Vì vậy khi đưa bé đi tiêm ngừa, cha mẹ cần nói cho bác sĩ biết tất cả tiền sử về dị ứng của con mình
   -          Phụ nữ có thai hoặc nghi ngờ có thai
   -          Dự định có thai trong vòng 1 tháng sau tiêm ngừa
   -          Trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh, bất thường về máu, ung thư, nhiễm HIV, đang hoá trị liệu, bệnh lao.
   -          Đang mắc bệnh nặng
   Một số phản ứng phụ sau tiêm ngừa
   Tất cả các vắc xin đều có thể gây ra phản ứng phụ sau khi tiêm. Tuy nhiên, những phản ứng này đều nhẹ và ít khi xảy ra. Một số phản ứng có thể gặp sau tiêm ngừa thủy đậu bao gồm:
   -          Sưng, đỏ, đau ngay vị trí tiêm
   -          Sốt nhẹ
   -          Phát ban nhẹ xảy ra trong khoảng 5 – 26 ngày sau tiêm ngừa
   -          Dị ứng với vắc xin ngừa bệnh thủy đậu: rất hiếm xảy ra, những phản ứng này thường xuất hiện trong vòng 15 phút sau tiêm. Do đó sau khi được chủng ngừa, phụ huynh cần cho trẻ ngồi lại khoảng 30 phút để theo dõi.
   Trẻ có tiếp xúc với người bệnh thủy đậu có thể  tiêm ngừa được hay không?
   Bạn vẫn có thể đưa trẻ đến cơ sở y tế để được tiêm ngừa. Tuy vậy, nếu thời gian tiếp xúc của trẻ trên 5 ngày thì nhiều khả năng vắc xin sẽ không bảo vệ trẻ được khỏi bệnh. Bên cạnh đó, vắc xin ngừa bệnh thủy đậu cần thời gian khoảng 2 tuần lễ để đạt được miễn dịch tốt nhất nên trong khoảng thời gian này nếu trẻ có tiếp xúc với nguồn lây, trẻ vẫn có khả năng bị mắc bệnh. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, nếu trẻ phát bệnh sau tiêm ngừa thì các triệu chứng bệnh cũng sẽ được giảm nhẹ rất nhiều và hầu như không xảy ra biến chứng.
Bs Như Huỳnh

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Khi Mẹ Làm Bác Sĩ


  

Khi Con Biết Đòi Ăn


   Nếu một lúc nào đó bạn quan sát các bà mẹ cho bé ăn, bạn sẽ ngạc nhiên khi phát hiện ra một điều thú vị là gần như tất cả các bà mẹ đều dỗ dành con bằng một điệp khúc quen thuộc “Ăn đi con”. Rồi bạn sẽ càng ngạc nhiên và xúc động khi chính mình, một người đã trưởng thành, thậm chí đã có gia đình và con cái, được nghe điệp khúc quen thuộc thân thương ấy từ chính người mẹ của mình. Tất cả các bà mẹ đều như thế, cái gì ngon mẹ đều để dành phần con từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi trưởng thành. Mẹ mong bé con của mình ăn mau, chóng lớn, thông minh, mạnh khỏe, thành đạt nên người. Mẹ sung sướng khi thấy con nuốt ngon lành từng muỗng bột mà mẹ bỏ công ra nấu nướng, buồn lo khi thấy bé cứ lắc đầu nguầy nguậy, đút mãi cũng không chịu ăn. Có chị hỏi tôi “Bác sĩ ơi, bé nhà em biếng ăn lắm, đút nó cứ ngậm hoài, ăn lâu lắm, em không biết phải làm sao?” Một chị khác ở Bình Chánh nói: “Con của em đã 38 tháng rồi mà chỉ ăn ngày có 1-2 cữ, còn lại là nó uống sữa, nó không ăn được xác thịt, rau, chỉ húp nước canh. Bác sĩ nhìn xem cháu có bị suy dinh dưỡng không?” Một chị rất đau buồn tâm sự rằng chị đã đọc và làm theo nhiều sách nuôi con nhưng bé cứ ốm nhom, chẳng chịu ăn uống gì cả. Vậy làm thế nào để giúp các bà mẹ? Làm sao giúp các chị không phải mất nhiều công sức mà vẫn có thể nấu cho các bé một bữa ăn ngon lành, đủ chất đồng thời tập cho bé thói quen ăn uống tốt ngay từ lúc nhỏ?
   Từ 6 tháng tuổi trở đi, ngoài sữa mẹ bé con của chúng ta cần bổ sung thêm năng lượng từ thức ăn bên ngoài  để đáp ứng với nhu cầu lớn nhanh và vận động của trẻ như lật, trườn, bò, ngồi... Nếu không cung cấp đủ dinh dưỡng, bé sẽ thiếu chất, chậm lên cân rồi đứng cân, suy dinh dưỡng, bé chậm lớn, chỉ số thông minh giảm và dễ mắc các bệnh như tiêu chảy, viêm hô hấp, nhiễm trùng da…
   Khi ăn dặm, cơ thể bé cần đến hơn 50 chất dinh dưỡng khác nhau mà không có một loại thực phẩm nào có thể cung cấp đủ với tỉ lệ thích hợp ngoại trừ sữa mẹ trong những tháng đầu. Vì vậy bé càng ăn nhiều loại thực phẩm thì càng nhận được đầy đủ chất. Theo quan điểm của dinh dưỡng, không có loại thực phẩm nào tốt hay xấu mà quan trọng nhất là làm sao cho bé ăn đa dạng, nhiều loại thực phẩm với tỉ lệ thích hợp, không ăn quá nhiều một loại thực phẩm, tức là mẹ phải thường xuyên đổi món và tập cho bé ăn nhiều loại thực phẩm để bé nhận được đủ chất đồng thời có một thói quen ăn uống tốt sau này.
   Có thể chia các loại thực phẩm thành 4 nhóm như sau:
   - Nhóm đường bột như gạo, bột, nui, mì, khoai, đường…
   - Nhóm chất đạm: sữa, trứng, thịt, cá, tôm, cua, tàu hủ, các loại đậu…
   - Nhóm rau quả: rau dền, mồng tơi, cải xanh, bí đỏ, cà chua, cà rốt, mướp…
   - Nhóm chất béo: dầu, mỡ
   4 nhóm thực phẩm này đều có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ. Do vậy, bữa ăn của trẻ không nên thiếu nhóm chất nào kể trên mà tốt nhất là phải đảm bảo đầy đủ 4 nhóm với tỉ lệ phù hợp. Trung bình trong một chén cháo hoặc bột của trẻ sẽ có 1 muỗng chất đạm, 1 muỗng rau 1 muỗng dầu ăn, ví dụ như hôm nay bé ăn thịt heo thì chén bột của bé sẽ có 1 muỗng thịt + 1 muỗng rau + 1 muỗng dầu ăn, dùng loại muỗng dành cho trẻ lớn ăn cơm.
   Để có thể dễ dàng chế biến chén bột hoặc cháo đầy đủ dinh dưỡng các bà mẹ có thể đến Khoa Dinh dưỡng BV Nhi đồng 1, Trung tâm Dinh dưỡng và các Trạm y tế phường xã để được hướng dẫn thực hành dinh dưỡng. Tại các điểm này, không những các chị được tận mắt nhìn thấy từng bước chế biến rất cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện, không phải mất nhiều công sức, mà còn được làm, được trao đổi, giải đáp thắc mắc và chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình nuôi dưỡng trẻ, những điều mà các chị khó có thể tìm thấy trên sách vở vì ông bà ta vẫn thường nói “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”.
   Trong một buổi hướng dẫn thực hành dinh dưỡng, chị Nguyễn Thị Kim Phượng-điều dưỡng Khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã hướng dẫn các bà mẹ nhiều điều rất thú vị và bổ ích. Chị trao đổi rằng để dễ dàng và thuận tiện cho mình, các bà mẹ nên chế biến bữa ăn cho trẻ từ những thực phẩm đi chợ hàng ngày cho gia đình, chẳng hạn như nếu hôm nay các chị đi chợ mua thịt heo và rau dền, mồng tơi về thì có thể chế biến 1 chén bột cho bé gồm đủ 4 nhóm thực phẩm với tỉ lệ các chất cân đối như dưới đây:
   - Đầu tiên là phải rửa sạch tay trước khi chuẩn bị và chế biến thức ăn cho trẻ. Rửa sạch dao, thớt, thịt và rau.
   - Xắt và băm thịt thật nhuyễn, độ 1 muỗng thịt (dùng muỗng cho trẻ lớn ăn cơm)
   - Chọn và lặt khoảng 1 nắm lá rau tươi non và xắt nhuyễn sẽ được khoảng 1 muỗng
   - Cho thịt vào chén với 1 ít nước lạnh rồi tán đều
   - Đổ chén thịt vào nồi, thêm vào khoảng 1 chén nước. Bật lửa và khuấy liên tục, đều tay từ giữa nồi ra xung quanh để thịt không bị vón cục
   - Khi thịt đã chín, mềm thì cho tiếp 1 muỗng rau vào và tiếp tục khuấy đều
   - Cho vào nồi 1 muỗng dầu ăn, loại dầu có ghi trên chai là cooking oil. Đối với loại dầu salad thì cho dầu vào khi đã bắt nồi xuống.
   - Rau vừa chín thì nhắc nồi xuống để không bị mất chất vitamin có trong rau và giữ cho chén bột có màu sắc đẹp, hấp dẫn trẻ ăn
   - Từ từ cho bột chín vào nồi để có độ đặc phù hợp với chế độ ăn của trẻ theo lứa tuổi. Nếu bà mẹ dùng bột chưa chín thì cho bột vào chén với 1 ít nước lạnh, hòa tan, rồi cho vào nồi sau khi thịt mềm, tuy nhiên dùng loại bột này bà mẹ sẽ khó điều chỉnh độ đặc của bột hơn
   -  Cuối cùng bà mẹ đã chế biến xong 1 chén bột đầy đủ 4 nhóm chất: bột + đạm + dầu + rau với tỉ lệ các chất cân đối cho trẻ.
   Lưu ý:
   - Có thể dùng muối I ốt và đường có bổ sung vitamin A nêm thức cho trẻ để có khẩu vị phù hợp đồng thời bổ sung thêm các vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ là I ốt và vitamin A.
   - Không nên dùng bột ngọt để nêm nếm thức ăn cho trẻ. Theo một số nghiên cứu dùng bột ngọt trên súc vật mới sinh thấy có tổn thương trên não, nhưng trong thực tế vẫn chưa thấy người nào có hiện tượng này. Tuy nhiên để đề phòng, chúng ta không nên dùng bột ngọt cho trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi.
   Như vậy để nuôi dưỡng các con trưởng thành nên người, các bà mẹ đã hao tổn rất nhiều tâm trí, sức lực vừa phải hoàn thành tốt các công việc ngoài xã hội vừa dành thời gian chăm sóc gia đình, con cái. Bắt gặp hình ảnh các bà mẹ không quản khó nhọc chăm sóc các con đến từng miếng ăn giấc ngủ, cả lúc ốm đau, bệnh tật tôi chợt nhớ đến những lời thơ của nhà thơ Thanh Nguyên viết về mẹ với tất cả tấm lòng trân trọng biết ơn về tất cả những gì mẹ đã dành cho các con của mình “Khi con biết đòi ăn/ Mẹ là người mớm cho con từng muỗng cháo/ Khi con biết đòi ngủ bằng tiết tấu/ Mẹ là người thức hát ru con…”

H1- Rửa tay trước khi chế biến thức ăn cho bé
 

H2- Chuẩn bị 4 nhóm thực phẩm
 

H3- Xắt và băm thịt thật nhuyễn
 

H4- Lấy 1 muỗng thịt
 

H5- Cho thịt vào chén nước rồi tán đều
 

H6- Lặt 1 nắm rau tươi non
 

H7- Xắt rau nhuyễn
 

H8- Lấy 1 muỗng rau
 

H9- Cho vào nồi 1 muỗng dầu ăn
 

H10- Cho từ từ bột chín sẵn vào nồi để có độ đặc phù hợp
 

H11- Đổ bột vào chén

H12- Cho bé ăn ngay sau khi nấu

Buổi hướng dẫn thực hành dinh dưỡng tại Khoa Dinh dưỡng của BV Nhi đồng 1

Thứ Hai, 13 tháng 1, 2014

Bé Bim Béo Và Lời Khuyên GIúp Trẻ Chống Béo Phì



TÌM HIỀU TRÈ TỰ KỶ VÀ TÌM HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Tác giả: PGS Ninh Thị Ứng 

Khoa Thần Kinh- Bệnh viện Nhi Trung ương

I.Thế nào là bệnh tự kỷ?
Tự kỷ là tự phong toả, những rối nhiễu đặc hiệu trong việc không thể thiết lập các mối quan hệ tương tác với xã hội bên ngoài.
Đây là một tình trạng khiếm khuyết phức tạp về các khả năng phát triển của não bộ, tiến triển trong ba năm đầu đời của đứa trẻ, thường xẩy ra cho bất kỳ một đứa trẻ nào , không lệ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ phát triển của cha mẹ.
Chứng tử kỷ làm cho đứa trẻ mất khả năng giao tiếp, nhất là về phương diện ngôn ngữ và có thể gây tổn thương cho chính đứa trẻ vì các hành động tự gây hại, và quậy phá của trẻ.
 

II. Dấu hiệu nhận biết bệnh:
-Thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác.
-Thể hiện, hành động rất giống nhau trong cách chọn lựa các thói quen hàng ngày.
-Không hề nói năng hoặc cách nói rất kỳ dị, nói tuỳ thích.
-Rất thích xoay chuyển các đồ vật và thao tác khéo léo hoặc có những động tác định hình.
-Có kỹ năng cao về ý thức không gian, có trí nhớ vẹt trong khi lại rất khó khăn trong việc học tập các lĩnh vực khác.
- Bề ngoài có vẻ nhanh nhẹn, thông minh, dễ thương.
Những biểu hiện như trên có thể nhận biết từ khi trẻ 12 tháng cho đến khoảng 30 tháng tuổi.
 

III. Các dạng bệnh tự kỷ
Tự kỷ không phải một căn bệnh đơn độc mà nó bao gồm các hội chứng sau:
1. Rối loạn tự kỷ sớm.
2. Hội chứng Asperger. Một số biểu hiện ở trẻ nhỏ là vụng về, sợ leo trèo, hầu hết các trẻ này còn vụng về cả trong chuyện đi đứng. Khi bước đi chúng vung vẩy hai tay và chúi đầu về phía trước, chúng chạy một cách lúng túng, vươn dài hai cánh tay ra , khi lên cầu thang thì thường đi từng bậc một dù đã khá lớn để có thể bước một cách bình thường. Nhiều trẻ lại hay tạo ra các tư thế đặc biệt, những nét dị thường này ngày càng dễ nhận ra khi trẻ lớn lên và rõ nhất là ở tuổi thiếu niên và trưởng thành.
3. Rối loạn phát triển lan toả không đặc hiệu.
4. Hội chứng Rett.
5. Rối loạn nhân cách tuổi nhỏ.
Ngày nay, hiện tượng tự kỷ được xem là một trong các dạng loạn tâm ở trẻ em.
Nhiều bậc phụ huynh đau buồn vì đã có một đứa con có những hành vi mà họ không thể hiểu nổi, họ nghĩ là do họ gây ra những sai lầm, khiến họ trở nên mặc cảm và không tin rằng họ có thể giúp cho con mình được nữa. Các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy các hành vi của trẻ Tự kỷ thường là kết quả của các rối loạn trong sự phát triển từ khi trẻ mới ra đời hoặc trong những năm đầu và đa số là do thể chất chứ không hoàn toàn là do cách nuôi dạy của cha mẹ.
Đa số trẻ tự kỷ thường có khó khăn rõ rệt khi tập thể dục và trong các trò chơi, chúng chỉ có thể bắt chước một số động tác đơn giản, nhưng khi các động tác trở nên phức tạp hơn thì trẻ không thể nắm bắt được, nhất là trong các trò chơi phối hợp với đồng bạn.
Một điều nghịch lý là trẻ rất khó khăn khi nói, nhưng lại có khả năng nhại lại lời nói của người lớn, trong khi lại rất khó khăn khi lặp lại các động tác.
Các trẻ nhỏ thường bị xem là điếc vì hầu như không có phản ứng gì khi có người nói chuyện với chúng, kể cả tiếng động rất lớn. Một số trẻ tỏ ra đặc biệt ưa thích hay sợ hãi một loại tiếng động nào đó. Một số trẻ tỏ ra thích thú với hình ảnh, ánh sáng, âm thanh màu sắc của vô tuyến. Trẻ có thể liếm và ngửi người khác như một món đồ ăn. Có những trẻ không cảm thấy nóng hay lạnh. Nhiều trẻ tỏ ra không biết đau khi bi ngã, gẫy xương, vết trầy xước, ngược lại cũng có trẻ lại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi đau một tí đã khóc rất lâu. Có một số trẻ chỉ ăn một số món nhất định, đó là một dạng chống đối sự thay đổi. Trẻ thường uống khá nhiều nước. Tất cả các phản ứng này sẽ thay đổi theo thời gian, có khi giảm dần, biến mất hoặc có khi lại nảy sinh các phản ứng ngược lại, tất cả đều tuỳ thuộc vào cách chăm sóc và hướng dẫn của trẻ.
 
Cần lưu ý những điểm sau đây:
-Không bao giờ dám cởi áo, vì đó là một chiếc vỏ bọc an toàn.
-Không dám nhảy từ trên cao xuống, đó là những nỗi lo sợ bắt nguồn từ sự bồng ẵm không an toàn không được bế bồng lúc trẻ còn nhỏ.
-Lúc nào cũng chạy lăng xăng, hỗn loạn, đó chính là thái độ cho thấy , trẻ đang tìm lại chính mình. Những trẻ này không ý thức được rằng: Mình chỉ có một thân thể duy nhất, hay chính là một đứa trẻ đang tìm cách chảy trốn , thoát khỏi những sự kìm kẹp của người lớn.
Cần lưu ý đặc biệt đến các loại hành vi sau đây:
-Hành vi lặp đi lặp lại một số động tác.
-Hành vi thiếu thích nghi hay cứng nhắc.
-Hành vi thiếu thích thú, không biết vui đùa.
Như vậy trước một trẻ có bất thường về tâm vận động nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế có các : chuyên khoa thần kinh, tâm thần, chuyên viên tâm lý lâm sàng, chuyên viên tâm vận động, chuyên viên chỉnh âm, giáo dục viên đặc biệt, để có sự tư vấn , có phương hướng giáo dục đặc biệt.
Việc trị liệu cho trẻ tự kỷ đòi hỏi lâu dài kiên trì nhiều năm, trên nguyên tắc: can thiệp từng bước vào sự phát triển vận động và tâm lý theo các lứa tuổi khac nhau.
- Tập vận động thô qua các dụng cụ vận động đơn giản, dạy cho trẻ biết vẫy tay. Chơi trò chơi xếp các khối hình vuông.
- Tập vận động tinh tế: biết cầm viên bi bằng 2 ngón tay ( ngón cái và ngón trỏ). Biết cầm bút, vẽ trên giấy, năn hình, tô màu.
- Tạo cho trẻ không gian giao tiếp. Như là dạy cho trẻ biết vẫy tay, biết chơi các trò trẻ con và hát theo động tác bằng cách đứng ở phía sau trẻ, cầm lấy cánh tay và tập cho đến khi trẻ có thể tự vận động, phải thật kiên trì với trẻ.
Moi kỹ năng khác cũng phải dạy theo cách đó vì đứa trẻ thiếu sự thúc đẩy bên trong để bắt chước người khác.
- Luyện nói cho trẻ. Kể những câu chuyện từ đơn giản đến phức tạp dần (phụ thuộc vào tuổi)
- Biết cách kích thích tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phép trẻ em trở nên chủ động trong các hành động và lời nói
Moi kỹ năng khác cũng phải dạy theo cách đó vì đứa trẻ thiếu sự thúc đẩy bên trong để bắt chước người khác

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

TUỔI NÀO TIÊM VẮC XIN GÌ?

   Các loại vắc xin đều có qui định mốc thời gian bé bắt đầu tiêm mũi đầu tiên để có thể đạt hiệu quả tốt nhất. Điều khó khăn cho cha mẹ là không biết ở độ tuổi của con mình bé có thể tiêm những loại vắc xin nào. Bài hướng dẫn dưới đây có thể giúp được cho các bạn khi đối chiếu với tuổi của con mình để xem bé cần tiêm những loại nào. Lưu ý đây là tuổi có thể bắt đầu tiêm đối với mỗi loại vắc xin, nếu vì lý do nào đó gây trễ lịch tiêm so với tuổi, bé vẫn được thực hiện mũi tiêm như bình thường và các liều vắc xin tiếp theo sẽ lần lượt được dời để đảm bảo khoảng cách tối ưu giữa các liều.
Tuổi của bé
Vắc xin cần tiêm trong chương trình TCMR
Vắc xin có thể tiêm ngoài TCMR
Mới sinh
 
- Lao (BCG)
- Viêm gan siêu vi B liều 1

2 tháng tuổi
- Bạch hầu - Ho gà – Uốn ván (DTC) liều 1
- Bại liệt liều 1
- Viêm gan siêu vi B liều 2
- Bệnh do Hib liều 1
- Uống ngừa rotavirus liều 1
3 tháng tuổi
- DTC liều 2
- Bại liệt liều 2
- Bệnh do HiB liều 2
- Rotavirus liều 2
4 tháng tuổi
- DTC liều 3
- Bại liệt liều 3
- Viêm gan siêu vi B liều 3
- Bệnh do HiB liều 3
Từ 6 tháng tuổi

- Cúm
9 tháng tuổi
 
- Sởi

Đủ 1 tuổi

- Thủy đậu
- Sởi-Quai bị-Rubella
- Viêm não Nhật Bản
- Viêm gan siêu vi A
16 – 18 tháng

- Tiêm nhắc DTC, Bại liệt và Bệnh do HiB
Đủ 2 tuổi

- Viêm màng não mô cầu
- Thương hàn

CÁC BỆNH CÓ THỂ PHÒNG NGỪA ĐƯỢC BẰNG VẮC XIN

   1.    Lao:
   Bệnh lao ở trẻ em đã giảm đáng kể so với những thập niên trước đây. Tuy nhiên, tình hình nhiễm HIV/AIDS ở trẻ em ngày càng gia tăng là một nguy cơ tiềm ẩn để bệnh lao quay lại và bùng phát ở trẻ em. Tiêm ngừa BCG giúp phòng các thể lao nặng ở trẻ em như lao kê, lao màng não.
   2.    Bạch hầu-ho gà-uốn ván:
   Đây là 3 bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong giảm đáng kể trong những thập niên gần đây nhờ thành công của chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia.
   3.    Bệnh bại liệt:
   Ở nước ta bệnh bại liệt đã được loại trừ từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, ở một số nước trong khu vực, thỉnh thoảng phát hiện một vài trường hợp mới. Vì vậy, trẻ em dưới 5 tuổi vẫn phải tiếp tục được chủng ngừa vắc xin bại liệt để phòng ngừa bệnh bại liệt quay trở lại.
   4.    Viêm gan siêu vi B:
   Viêm gan siêu vi B là một bệnh do siêu vi trùng gây ra. Bệnh biểu hiện bằng sốt, vàng da, vàng mắt tiểu vàng. Điểm nguy hiểm của bệnh này là trong 100 người bị nhiễm bệnh chỉ có 10 người là biểu hiện ra bệnh với các triệu chứng như trên. Số còn lại không biểu hiện ra bệnh nhưng có thể diễn tiến theo hai hướng: (1) Đa số có sức đề kháng tốt và vượt qua, lúc này cơ thể sẽ có kháng thể chống lại vi rút viêm gan B – “tự chích ngừa”; (2) Một số ít âm thầm diễn tiến đến xơ gan, ung thư gan ở tuổi trưởng thành. Vì vậy, những trường hợp nhiễm viêm gan siêu vi B nên kiểm tra định kỳ mỗi 3-6 tháng để biết có chuyển sang giai đoạn mạn tính hay không ?
   Trong khu vực châu Á, có nơi tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B lên đến 60%. Bệnh lây truyền qua đường máu và các dịch tiết trong cơ thể. Cách phòng bệnh hữu hiệu hiện nay là tiêm ngừa vắc xin càng sớm càng tốt. Ở trẻ em, không cần xét nghiệm kiểm tra xem có nhiễm vi rút viêm gan B trước khi tiêm ngừa vì nếu trẻ đã nhiễm thì vắc xin cũng không làm bệnh nặng hơn.
   5.    Bệnh sởi:
   Đây là bệnh do siêu vi trùng gây ra, biểu hiện bằng các triệu chứng sau: Sốt, phát ban toàn thân và kèm theo một hay nhiều hơn các triệu chứng sau: ho, sỗ mũi nước và mắt đỏ. Dấu hiệu ban toàn thân trong bệnh sởi có những đặc điểm sau: Khởi đầu ở sau tai, sau đó lên mặt, xuống cổ, lưng, bụng và tay, chân. Khi ban lặn để lại những vết thâm trên da được gọi là vết hằn da hổ, và bong tróc nhẹ. Đặc điểm này giúp phân biệt giữa ban sởi và các ban khác. Lưu ý: một trẻ từ nhỏ đến lớn có thể bị nổi ban nhiều lần nhưng nếu đúng là ban sởi thì chỉ bị một lần mà thôi.
   Ở nước ta, do bệnh sởi còn phổ biến nên thời điểm tiêm vắc xin sởi là 9 tháng tuổi thay vì 15 tháng tuổi như các nước tiên tiến. Vì vậy, ở một số ít trẻ, hiệu quả vắc xin không đạt tối ưu do còn kháng thể từ mẹ truyền sang (kháng thể này sẽ trung hòa một phần kháng nguyên trong vắc xin). Chính vì vậy, trong thời gian gần đây, chương trình tiêm chủng quốc gia khuyến cáo nên tiêm nhắc lại một mũi nữa khi các cháu ở độ tuổi đến trường.
   6.    Bệnh rubella:
   Còn gọi là bệnh ban đào hay bệnh sởi của người Đức. Bệnh biểu hiện bởi các triệu chứng là sốt và phát ban toàn thân. Trẻ em mắc bệnh thường tự khỏi trong vòng một tuần mà không để lại di chứng. Phụ nữ mắc bệnh giai đoạn mang thai rất nguy hiểm vì con sinh ra có thể mắc bệnh rubella bẩm sinh để lại những di chứng nặng nề, là gánh nặng của gia đình và xã hội.
   7.    Bệnh quai bị:
   Bệnh do vi rút gây ra, lây lan qua đường hô hấp và thường gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái. Bệnh biểu hiện bằng các triệu chứng như sốt, mệt mỏi, sưng to tuyến nước bọt như tuyến mang tai, tuyến dưới hàm làm cho cổ của bệnh nhân sưng to. Bệnh thường chỉ được điều trị triệu chứng và sẽ hết trong vòng một tuần, ít để lại di chứng. Các biến chứng nguy hiểm của bệnh quai bị là viêm não, viêm cơ tim và vô sinh do viêm xơ teo tinh hoàn ở bé trai.
   8.    Viêm màng não mũ do Hemophilus influenzae typ b (Hib):
   Bệnh viêm màng não ở trẻ em do rất nhiều nguyên nhân gây ra như vi trùng, siêu vi trùng, ký sinh trùng và nấm. Những vi trùng hay gặp trong bệnh viêm màng não ở trẻ em là Hib, phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, não mô cầu, Klebsiella, vi khuẩn đường ruột và các vi trùng khác. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chỉ có vắc xin phòng bệnh viêm màng não do Hib và não mô cầu. Vắc xin phế cầu khuẩn loại conjugate – loại có hiệu quả ở trẻ em hiện nay chưa  thấy xuất hiện trên thị trường Việt Nam.
   9.    Viêm não Nhật Bản:
   Bệnh viêm não Nhật Bản do vi rút gây ra qua trung gian truyền bệnh là muỗi. Bệnh khởi phát với các triệu chứng sốt đột ngột, nhức đầu, mệt mỏi, buồn nôn và nôn. Sau 3-4 ngày trẻ có thể co giật, lơ mơ, hôn mê. Khoảng 20% số trường hợp có thể diễn tiến nặng dẫn đến tử vong. Bệnh không có điều trị đặc hiệu mà chủ yếu là điều trị nâng đỡ. Tiêm chủng là cách quan trọng nhất để phòng ngừa bệnh.
   10.  Trái rạ (thủy đậu):
   Bệnh do siêu vi trùng Varicella zoster, thường gặp ở trẻ em. Bệnh gây sốt phát ban có bóng nước ngứa toàn thân. Bệnh rất dễ lây lan trong môi trường đông đúc như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học. Bệnh có thể gây các biến chứng như nhiễm trùng da, viêm não, viêm màng não, viêm tủy cắt ngang. Hiện nay chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng vắc xin để phòng bệnh trái rạ cho trẻ từ 12 tháng trở lên.
   11.  Viêm gan siêu vi A:
   Đây là bệnh nhiễm trùng ở gan do vi rút gây ra. Khác với viêm gan siêu vi B, đường lây của viêm gan siêu vi A  là đường tiêu hóa qua ăn thức ăn, đồ uống, tiếp xúc với vật có nhiễm phân của người bệnh. Vi rút gây bệnh viêm gan cấp với sốt, mệt, chán ăn, nôn, vàng da.
   12.  Cúm:
   Bệnh do vi rút Influenza gây ra, lây lan qua đường hô hấp và lưu hành toàn thế giới. Bệnh gây tình trạng nhiễm vi rút hô hấp cấp tính với các triệu chứng sốt, ho, đau đầu, đau cơ, đau họng. Hiện nay có thể ngừa cúm cổ điển ở người bằng cách tiêm vắc xin hàng năm. Riêng các loại cúm biến thể như cúm A-H1N1 hay cúm gia cầm H5N1 hiện vẫn chưa có vắc xin ngừa bệnh.
   13.  Viêm màng não do não mô cầu:
   Đây là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn não mô cầu gồm các týp A, B, C, Y và W135. Vi khuẩn lây truyền từ người sang người qua những giọt nhỏ khi ho, hắt hơi. Bệnh khởi phát đột ngột với đau đầu nhiều, sốt, buồn nôn, nôn, cổ cứng, nổi ban xuất huyết. Các dấu hiệu khác đi kèm thường là li bì, mê sảng, hôn mê và co giật. Ở trẻ em, tỉ lệ tử vong khoảng 50% nếu không được điều trị. Hiện có vắc xin phòng bệnh đối với týp A, C. Vắc xin không có hiệu quả nhiều ở trẻ nhỏ nên bắt đầu tiêm cho trẻ từ 2 tuổi trở lên.
   14.  Thương hàn:
   Thương hàn là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, lây qua đường tiêu hóa. Bệnh biểu hiện bằng sốt cao, tiêu lỏng, bụng chướng. Biến chứng nguy hiểm thường gặp là xuất huyết tiêu hóa. Phương pháp phòng bệnh đặc hiệu, chủ động và có hiệu quả là tiêm vắc xin.
   15.  Viêm dạ dày ruột do Rotavirus:
   Rotavirus là một loại siêu vi trùng gây ra bệnh viêm dạ dày - ruột với triệu chứng chủ yếu là tiêu chảy, ngoài ra trẻ có thể sốt và nôn mửa. Bệnh rất thường gặp ở trẻ từ 3 – 24 tháng tuổi. Đây là tác nhân thường gặp nhất gây ra  tiêu chảy và ói mửa nặng ở trẻ em trên toàn thế giới. Vắc xin phòng bệnh dạng uống sử dụng liều đầu cho trẻ từ 2 – 5 tháng tuổi.
   16.  Tả:
   Là bệnh truyền nhiễm có thể lây lan thành dịch. Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa do thực phẩm, nước uống mang mầm bệnh. Triệu chứng chính của bệnh là nôn và tiêu chảy.  Để phòng bệnh, nên sử dụng nguồn nước vệ sinh, làm sạch môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm. Vắc xin tả thường được cho uống theo chiến dịch và trước mùa dịch hàng năm.
   17.  Bệnh do nhiễm siêu vi Human Papiloma virus:
   Tác nhân gây bệnh là Human papilomavirus (HPV). Nhiễm HPV 6, 11 có thể gây mụn cóc, u nhú hô hấp. Nhiễm HPV týp 16, 18 có thể gây sang thương biểu mô, tiến triển đến ung thư cổ tử cung.